Hội thảo do Trung tâm Nghiên cứu và phát triển văn hóa Hùng Vương, Liên hiệp các hội Khoa học và kỹ thuật Việt Nam, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam và Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam đồng tổ chức, thu hút đông đảo các chuyên gia về Khảo cổ học và Lịch sử Việt Nam Cổ trung đại, các chuyên gia đầu ngành, cán bộ nghiên cứu Cổ Nhân học, Ngôn ngữ học, Hán Nôm học, Dân tộc học, Văn hóa học, Văn hóa dân gian, Địa lý học, Bảo tàng học, Lịch sử Việt Nam Cận hiện đại, Lịch sử Thế giới, Chính trị học, Quân sự học…

Toàn cảnh hội thảo ngày 24-9

Với hơn 70 báo cáo, tham luận, tại hội thảo, các đại biểu đã trình bày một cách rõ ràng, thuyết phục về thời điểm ra đời, cơ cấu tổ chức nhà nước Văn Lang, Âu Lạc, tổ chức xã hội và đời sống kinh tế, văn hóa của cư dân thời Hùng Vương, An Dương Vương.

Nhiều báo cáo nghiên cứu thực địa ở các địa phương làm sáng tỏ thêm rằng không chỉ thời đại Hùng Vương là có thật, mà sự thật ấy còn để lại dấu tích đầy đủ, niên đại chuẩn xác, trên những vị trí địa lý hết sức cụ thể. Nhiều báo cáo đã chứng minh Việt Nam có một lịch sử dựng nước sớm, có một nền văn hiến lâu đời, tạo thành cơ sở nền tảng và vững bền cho toàn bộ quá trình sinh tồn và phát triển của quốc gia, dân tộc Việt Nam.

Các nghệ sĩ trình diễn, giới thiệu di sản văn hóa phi vật thể của Việt Nam được công nhận là di sản văn hóa nhân loại tại hội thảo 

PGS.TS Nguyễn Minh Tường, Viện Sử học, Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam đã chứng minh, từ thời đại Hùng Vương dựng nước, các bộ lạc của người Việt cổ đã tập hợp lại thành cộng đồng cư dân nước Văn Lang. Vua Hùng vốn là thủ lĩnh của bộ lạc Văn Lang, là bộ lạc mạnh nhất rồi trở thành thủ lĩnh chung của nhóm 15 bộ lạc và chuyển hóa dần thành người đứng đầu nhà nước Văn Lang. Vì vậy, Tổ Hùng Vương là vị Tổ dựng nước (hay Quốc tổ) của người Việt cổ, của cư dân Văn Lang thuở lập quốc…

Do vị thế và vai trò lịch sử, văn hóa của dân tộc Việt (Kinh), tín ngưỡng thờ Tổ Hùng Vương dần dần được coi như biểu tượng của sự thống nhất quốc gia, thống nhất dân tộc, nhất là khi các vương triều nâng lên thành Quốc Tổ với nghi lễ mang tính quốc gia.

Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương hình thành từ rất sớm trong lòng dân, trong đời sống tâm linh dân gian và ngày càng được hun đúc, tôn vinh trước yêu cầu liên kết cộng đồng, củng cố sức mạnh đoàn kết dân tộc để vượt qua các thách thức hiểm nghèo của đất nước. Tín ngưỡng này giữ vai trò như chất kết dính dân tộc, như một sức mạnh tâm linh, sợi chỉ thiêng gắn bó cộng đồng trong một vận mệnh chung, xuất phát từ một vị Quốc Tổ dựng nước đầu tiên.

Hội thảo thu hút sự tranh luận sôi nổi trên tinh thần khoa học, yêu nước.

Cũng theo PGS.TS. Nguyễn Minh Tường, hiếm có dân tộc nào trên thế giới có ông tổ chung như dân tộc Việt và hiếm có dân tộc nào lại lập quốc, đặt quốc hiệu, có bộ máy quản lý quốc gia sớm như nước ta. Trong tâm thức mỗi người Việt đều ý thức mình có chung dòng máu, cùng nằm chúng trong một bào thai của mẹ Âu Cơ. Ý thức dân tộc, tình yêu nước không trừu tượng mà rất cụ thể. Nó biểu hiện thành một thứ sức mạnh để đoàn kết dân tộc cả trong dựng nước và giữ nước mà ta thường gọi là sức mạnh Việt Nam, văn hóa Việt Nam.

TS Đỗ Quang Tuấn, Trung tâm Nghiên cứu và phát triển văn hóa Hùng Vương nhấn mạnh: Dân tộc ta có sự trường tồn cho đến ngày nay, trải qua những thăng trầm của lịch sử mà không bị khuất phục, không bị đồng hóa, trước hết là do có bề dày văn hóa rất độc đáo. Văn hóa thời đại Hùng Vương là một kho báu lớn về những triết lý của tổ tiên ta được chắt lọc từ trong cuộc sống dựng nước và giữ nước ở thời kỳ lịch sử sơ khai của dân tộc.

Phát biểu tại hội thảo, GS.TS Nguyễn Xuân Thắng, Bí thư Trung ương Đảng, Chủ tịch Hội đồng lý luận Trung ương, Giám đốc học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh đã đánh giá các báo cáo, tham luận và ý nghĩa của hội thảo. GS.TS Nguyễn Xuân Thắng cũng nhấn mạnh: Hội thảo đã khẳng định vị trí vai trò, tầm quan trọng của thời đại Hùng Vương trong tiến trình lịch sử Việt Nam.

Các chuyên gia, nhà khoa học đã nghiên cứu dưới nhiều góc độ, bằng nhiều phương pháp; khác nhau, cho thấy những minh chứng rất đỗi tự hào, đáng quý về vai trò, vị trí, ý nghĩa của thời đại Hùng Vương trong tiến trình lịch sử Việt Nam, lý giải thấu đáo vì sao Việt Nam luôn kiên cường trong các cuộc đấu tranh giành độc lập, bảo vệ tổ quốc và ảnh hưởng, uy tín, vị thế của Việt Nam ngày càng tăng lên.

Các báo cáo cũng cho thấy rất rõ từ thời đại Hùng Vương đến thời đại Hồ Chí Minh là một tiến trình, dòng chảy liên tục của văn hóa Việt Nam và chúng ta hoàn toàn có thể tự hào về di sản văn hóa Việt Nam. Thế giới đã nhận thấy những di sản đặc biệt này khi công nhận nhiều di sản văn hóa của Việt Nam là di sản văn hóa thế giới. Trong đó, tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương, hát Xoan là những di sản văn hóa hiếm thấy. Các di sản này là tài sản vô giá để tạo nên sức sống mãnh liệt của dân tộc Việt Nam.

Cũng theo PGS.TS Nguyễn Xuân Thắng, trong thời gian tới, các nhà khoa học cần tiếp tục sử dụng thành tựu của cách mạng khoa học công nghệ 4.0 và hợp tác với nhau để nghiên cứu hiệu quả hơn.

Cần có đánh giá, kết luận về thời đại Hùng Vương, về dân tộc Việt Nam, về lịch sử văn hóa của dân tộc Việt Nam; làm rõ hơn truyền thống đấu tranh giữ nước, lao động sản xuất, nền văn minh của người Việt cổ, văn minh văn hóa sông Hồng làm nên bản sắc văn hóa Việt Nam, của dân tộc Việt Nam; lý giải một cách thấu đáo, thuyết phục là vì sao cho đến thời đại Hồ Chí Minh, dân tộc ta Việt Nam yêu chuộng hòa bình nhưng luôn kiên quyết bảo vệ độc lập dân tộc, đấu tranh với bất cứ thế lực nào xâm phạm nền độc lập của đất nước.

Cần nhấn mạnh, khơi dậy, phát huy ý chí, niềm tự hào về cội nguồn của Việt Nam, không chỉ trong phát triển kinh tế xã hội mà còn trong cuộc đấu tranh bảo vệ chủ quyền, quyền tài phán của Việt Nam, vừa xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội, vừa bảo vệ vững chắc tổ quốc.


N.Hoa