Trong sự nghiệp đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, cùng với việc xác định phát triển kinh tế là nhiệm vụ trọng tâm, Đảng ta luôn coi xây dựng Đảng là nhiệm vụ then chốt. Đây là quan điểm nhất quán, xuyên suốt, vừa có ý nghĩa cấp bách, vừa cơ bản lâu dài, đồng thời là nhân tố quyết định thắng lợi của sự nghiệp cách mạng Việt Nam, củng cố niềm tin của nhân dân đối với Đảng. Những kết quả đạt được về công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng trong những năm qua là rất quan trọng, được khẳng định cả về chính trị, tư tưởng, tổ chức và đạo đức. 

Tuy nhiên, cũng cần thẳng thắn nhìn nhận rằng, công tác xây dựng Đảng còn không ít hạn chế, khuyết điểm. Công tác giáo dục chính trị tư tưởng, nghiên cứu, tổng kết thực tiễn, giảng dạy và học tập chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh chưa đáp ứng yêu cầu. Nội dung sinh hoạt Đảng ở nhiều nơi còn đơn điệu, hình thức, hiệu quả chưa cao. Năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của không ít tổ chức Đảng còn thấp, thậm chí có nơi mất sức chiến đấu.

Công tác tổ chức, cán bộ và quản lý cán bộ, đảng viên còn yếu kém. Nhiều cán bộ, đảng viên, trong đó có người đứng đầu chưa thể hiện tính tiên phong, gương mẫu; còn biểu hiện quan liêu, cửa quyền, chưa thực sự sâu sát thực tế, cơ sở. Công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật đảng chưa đủ sức răn đe, ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái...

Trước tình hình trên, Hội nghị Trung ương 4 (khóa XII) đã thống nhất ban hành Nghị quyết về “Tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ”, nhằm khắc phục những hạn chế, khuyết điểm trên, xây dựng Đảng vững mạnh cả về chính trị, tư tưởng, tổ chức và đạo đức.

Đây là Nghị quyết chuyên đề của Ban Chấp hành Trung ương (khóa XII) về xây dựng Đảng và cũng là nhiệm vụ trọng tâm đầu tiên của nhiệm kỳ Đại hội XII của Đảng.

Nghị quyết vừa cụ thể hóa thực hiện 10 nhiệm vụ, giải pháp về xây dựng Đảng mà Nghị quyết Đại hội XII đề ra; vừa tiếp tục thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI) trong điều kiện mới. Điều đó chứng tỏ quyết tâm chính trị rất cao, sự nỗ lực rất lớn và tư tưởng nhất quán của Đảng về tầm quan trọng đặc biệt của công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, chống suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”; đồng thời, thể hiện tầm tư duy và thái độ kiên quyết, kiên trì thực hiện của Đảng trước yêu cầu về năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu trong tình hình mới, nhằm củng cố niềm tin của nhân dân đối với Đảng.

Để nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII) đi vào cuộc sống, cần quán triệt và thống nhất một số vấn đề cơ bản sau đây:

Thứ nhất, nâng cao nhận thức về mục đích, ý nghĩa, tầm quan trọng của Nghị quyết đối với công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng hiện nay. Việc tổ chức quán triệt, học tập Nghị quyết phải được thực hiện nghiêm túc ở tất cả các cấp, theo đúng nội dung, chương trình, kế hoạch đã đề ra.

Thông qua đó, để mọi cán bộ, đảng viên nhận thức sâu sắc nguy cơ, nhận diện đúng những biểu hiện và đề ra các giải pháp phù hợp để đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi có hiệu quả tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ. Kiên quyết khắc phục những yếu kém trong công tác cán bộ và xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ cấp chiến lược, cán bộ chủ trì các cấp.

Tập trung quán triệt, nắm vững những quan điểm cơ bản về xây dựng Đảng, những nội dung trọng tâm cần triển khai, nâng tầm tư duy, phương pháp luận trong tổ chức thực hiện; tạo sự thống nhất cao về nhận thức và hành động; đề cao trách nhiệm nêu gương để chỉ đạo thực hiện Nghị quyết có hiệu quả.

Thực hiện tốt phương châm: kiên quyết, kiên trì thực hiện Nghị quyết, làm thực chất và kịp thời khắc phục những biểu hiện làm chiếu lệ, qua loa, đại khái, hình thức, đối phó, không thấy được giá trị thiết thực của Nghị quyết đối với công tác xây dựng Đảng, rèn luyện đội ngũ cán bộ, đảng viên hiện nay.

Thứ hai, nhận diện đúng những biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ. So với các Nghị quyết về xây dựng Đảng trước đây, lần đầu tiên Ban Chấp hành Trung ương đã thẳng thắn chỉ ra một cách có hệ thống, với 27 biểu hiện của sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”.

Điều đó thể hiện quan điểm nhất quán của Đảng ta là nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng sự thật, nói rõ sự thật. Việc đưa ra hệ thống những biểu hiện suy thoái đó tạo cơ sở cho mỗi cán bộ, đảng viên suy ngẫm và hành động; tự soi, tự sửa, tự phê bình và phê bình, kiểm điểm đánh giá cá nhân, góp ý cho người khác và xử lý đối với những tập thể, cán bộ, đảng viên vi phạm.

Hệ thống những biểu hiện này cũng là căn cứ để góp phần xây dựng tiêu chuẩn chức danh, tiêu chí đánh giá cán bộ về phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống. Bởi vậy, mọi cán bộ, đảng viên phải nghiên cứu, nắm vững để phòng tránh và khắc phục, tránh tư tưởng cho rằng những biểu hiện đó là ở nơi khác, người khác chứ không có trong nội bộ mình, bản thân mình, dẫn đến chủ quan, giản đơn trong xem xét, đánh giá chất lượng cán bộ, đảng viên và tổ chức đảng.

Thứ ba, nắm vững các nhóm giải pháp. Với quan điểm chỉ đạo là kiên quyết, kiên trì thực hiện, khó mấy cũng phải thực hiện và thực hiện với quyết tâm chính trị cao, nỗ lực lớn, tiến hành thường xuyên, liên tục ở các cấp, các ngành, đồng bộ cả ở Trung ương và cơ sở, Nghị quyết đã đề ra các nhóm giải pháp: Về công tác chính trị tư tưởng, tự phê bình và phê bình; về cơ chế, chính sách; về kiểm tra, giám sát, kỷ luật đảng; về phát huy vai trò của nhân dân và Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể chính trị - xã hội.

Trong đó, có một số giải pháp mới rất quan trọng, như: đổi mới và bắt buộc học tập lý luận chính trị; cam kết rèn luyện, giữ gìn phẩm chất đạo đức, lối sống, không suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”; cơ chế kiểm soát quyền lực; siết chặt kỷ luật, kỷ cương trong Đảng, đề cao pháp luật của Nhà nước, công khai kết quả xử lý vi phạm; sự thống nhất về chính sách và kỷ luật giữa Đảng và Nhà nước.

Đồng thời, tăng thẩm quyền, trách nhiệm của người đứng đầu để xử lý cán bộ thuộc quyền và sự giám sát của nhân dân trong xây dựng Đảng; phát huy vai trò của báo chí, các cơ quan truyền thông; có cơ chế tạo động lực, như: chính sách tiền lương, nhà ở...

Trên cơ sở nắm vững các nhóm giải pháp đó, các cấp ủy, tổ chức đảng và các bộ chủ trì các cấp triển khai thực hiện ở cấp mình với tinh thần trách nhiệm và ý thức chính trị cao trước Đảng, trước nhân dân và vận mệnh của dân tộc.

Thứ tư, triển khai thực hiện quyết liệt, hiệu quả. Để việc thực hiện Nghị quyết đạt được mục tiêu, yêu cầu đề ra, cần phải phát huy sự chủ động, sáng tạo và sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị, của nhân dân, trong đó cán bộ cấp cao, cán bộ chủ chốt, người đứng đầu các cấp là nòng cốt.

Thực hiện quyết liệt, đồng bộ các giải pháp để đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” có hiệu quả, nhất là những vụ việc gây bức xúc trong dư luận để củng cố niềm tin của nhân dân đối với Đảng; kết hợp giữa “xây” và “chống”, lấy “xây” là chủ yếu, “chống” là quan trọng.

Đồng thời, gắn thực hiện Nghị quyết với Chỉ thị 05-CT/TW của Bộ Chính trị (khóa XII) về đẩy mạnh việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh một cách thường xuyên, có hiệu quả. Mỗi cán bộ, đảng viên phải nhận thức sâu sắc trách nhiệm của mình, thực hiện Nghị quyết một cách nghiêm túc, tránh nói nhiều làm ít, chỉ nói mà không làm, thờ ơ, vô cảm, đứng ngoài cuộc hoặc có tư tưởng trông chờ, phán xét người khác.

Trong giai đoạn cách mạng mới, yêu cầu về năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của Đảng ngày càng cao. Bởi vậy, việc quán triệt và thực hiện nghiêm túc Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII) về xây dựng Đảng càng có ý nghĩa thiết thực, góp phần làm trong sạch nội bộ, xây dựng Đảng ngang tầm, lãnh đạo hoàn thành thắng lợi sự nghiệp đổi mới, hội nhập, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay.

Đại tá, TS Đỗ Hồng Lâm