Trần Thị Minh Ngọc (26 tuổi, trú tại phường Phù Liễn, quận Kiến An, Hải Phòng) làm nghề phiên dịch tiếng Trung Quốc. Qua mạng xã hội, Ngọc quen đối tượng A Béo (người Đài Loan, hiện chưa xác định rõ địa chỉ) và được anh này rủ sang Trung Quốc làm phiên dịch với mức lương 15 triệu đồng một tháng. 

Trong thời gian ở Trung Quốc, Ngọc được A Béo bày cho thủ đoạn gian dối để lừa đảo chiếm đoạt tiền của người Việt Nam qua thiết bị công nghệ số. 

Thay vì tố giác sự việc tới các cơ quan bảo vệ pháp luật của Việt Nam để truy bắt tội phạm, Ngọc lại “bắt tay” với A Béo dụ thêm người Việt Nam thực hiện hành vi phạm tội. 

Ngày 19- 5, TAND TP Hà Nội đã mở phiên tòa hình sự sơ thẩm xét xử vụ án này. Đồng bọn của Ngọc là Vũ Đức Hiếu (24 tuổi, trú tại xã Nghĩa Thịnh, huyện Nghĩa Hưng, tỉnh Nam Định).   

Theo cáo trạng của Viện KSND TP Hà Nội, thông qua phần mềm Wedchat (phần mềm gửi tin nhắn, hình ảnh và kết bạn cài đặt trên điện thoại Iphone…) Ngọc quen biết đối tượng A Béo. Qua nói chuyện, A Béo biết Ngọc làm nghề phiên dịch tiếng Trung Quốc nên rủ Ngọc sang Trung Quốc làm phiên dịch cho anh ta và hứa trả lương 15 triệu đồng một tháng. 

Tháng 6- 2014, Ngọc được A Béo thuê phòng trọ cho ở tại tỉnh Đông Hưng (Trung Quốc), gần cửa khẩu biên giới Móng Cái (Quảng Ninh), thuộc vùng phủ sóng của mạng di động Mobifone Việt Nam. A Béo giới thiệu Trần Thị Lan ở với Ngọc để cùng làm việc. 

Hai bị cáo Ngọc và Hiếu tại phiên xử.

A Béo đã cung cấp 4 điện thoại di động và một máy tính xách tay cho Ngọc và Lan, đồng thời hướng dẫn hai người phụ nữ này thực hiện việc thu thập các tài khoản, thẻ visa, Master của người Việt Nam bằng cách sử dụng sim điện thoại di động Mobifone gọi điện đến người dân sử dụng điện thoại di động bất kỳ tại Việt Nam, giả danh là nhân viên Công ty Tài chính Nam Phong cho vay vốn, không cần thế chấp tài sản. 

Nếu ai đồng ý vay, Lan sẽ hướng dẫn làm theo các bước: đến các ngân hàng tại Việt Nam mở tài khoản, làm thẻ visa debit, Master, mua sim điện thoại Mobifone để đăng ký dịch vụ internet banking (chuyển tiền qua mạng internet). 

Khi người có nhu cầu vay, mở tài khoản và làm xong thẻ thì gửi toàn bộ thông tin về tài khoản, thẻ và mật khẩu đăng nhập internet banking, sim Mobifone dùng để đăng ký mã OTP (mã số xác thực khi chuyển tiền qua mạng internet), bản sao chứng minh nhân dân cho người của A Béo. 

Ngọc được phân công dùng máy tính xách tay lập bảng để theo dõi thông tin về tài khoản và thẻ ngân hàng. Mỗi thẻ, A Béo sẽ trả cho Ngọc và Lan 3 triệu đồng.

Để thực hiện hành vi phạm tội, Lan rủ Hiếu cùng sang Trung Quốc để nhập băng nhóm này nhưng không lừa được ai. Tháng 8- 2014, Ngọc bảo Hiếu quay về Việt Nam và thuê một số người ở quận Nam Từ Liêm, Hà Nội mở 5 tài khoản sử dụng thẻ tại một số ngân hàng với giá tiền 2 triệu đồng một thẻ. 

Sau đó, Hiếu đã nhận được 23 thẻ của những người mà anh ta đã thuê. Số thẻ này Hiếu chuyển lại cho Ngọc và Ngọc chuyển tiếp cho A Béo, chỉ giữ lại sim Mobifone. 

Có thẻ trong tay, A Béo bảo Ngọc tìm người để rút tiền từ các thẻ ngân hàng tại các cột AMT tại Việt Nam và sẽ trả cho người rút 5%, Ngọc 2% trên tổng số tiền rút được. Ngọc thỏa thuận với Hiếu và Hiếu nhận thực hiện việc rút tiền qua thẻ tại các cây ATM. 

Cùng thời điểm này, có nhiều bị hại sống tại Hà Nội đến Cơ quan CSĐT Công an TP Hà Nội trình báo về việc bị một nhóm đối tượng dùng số điện thoại của cơ quan Công an gọi đến số điện thoại cố định của gia đình họ nói về việc nợ cước điện thoại. Sau đó yêu cầu các bị hại chuyển tiền vào các tài khoản do chúng thông báo rồi chiếm đoạt.

Nạn nhân đầu tiên là bà V (ở quận Đống Đa, Hà Nội). Bà V được một đối tượng nữ gọi đến số điện thoại nhà riêng và tự xưng là nhân viên Công ty viễn thông, thông báo gia đình bà còn nợ cước 8 triệu đồng, từ tháng 8- 2014. Khi bà V nói là có thể bưu điện nhầm số thì đối tượng nữ này nói là bà nên gọi điện đến cơ quan Công an để thông báo sự việc. 

Sau đó đối tượng nữ nối máy để bà V nói chuyện với một người đàn ông tự xưng là Đại tá Công an, công tác tại… Qua điện thoại, người đàn ông này hù dọa bà V liên quan đến đường dây ma túy, rửa tiền và yêu cầu bà phải giữ bí mật tuyệt đối vì đây là vụ án rất nghiêm trọng. 

Sau đó người đàn ông yêu cầu bà V phải cung cấp số điện thoại di động cá nhân. Sau đó, anh ta gọi vào số điện thọai di động của bà V hỏi bà có gửi tiền ở ngân hàng không? Ngân hàng nào? Số tiền gửi là bao nhiêu?... 

Người đàn ông này sau đó yêu cầu bà V phải rút ngay số tiền 320 triệu đồng mà bà đang gửi tại một ngân hàng chuyển cho cơ quan điều tra để xác minh nguồn gốc, nếu không liên quan đến vụ án thì cơ quan điều tra sẽ trả lại. 

Tưởng những điều đối tượng nam giới nói là thật, bà V đã gửi số tiền 200 triệu đồng vào tài khoản của “cơ quan điều tra” do anh ta cung cấp… và bị chiếm đoạt. Cũng với thủ đoạn trên, Ngọc và đồng bọn đã chiếm đoạt của bà H.T (ở quận Ba Đình, Hà Nội) số tiền 333 triệu đồng.

Cơ quan điều tra xác định, tổng số tiền mà Ngọc và Hiếu đã giúp cho A Béo chiếm đoạt là 533 triệu đồng. Toàn bộ số tiền lừa đảo, Ngọc và Hiếu đã chuyển lại cho A Béo. Hành vi của Ngọc và Hiếu đã phạm vào tội sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, mạng internet hoặc thiết bị số thực hiện hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản. 

Liên quan đến đối tượng A Béo, cơ quan điều tra đã có công văn gửi Văn phòng Interpol Việt Nam phối hợp xác minh nhưng đến nay chưa có kết quả. Vì thế, cơ quan điều tra đã quyết định tách hành vi của đối tượng A Béo khi nào đủ căn cứ sẽ xử lý sau. 

Đối với hành vi của Nguyễn Thị Lan, do chưa làm rõ được nên cơ quan điều tra cũng quyết định tách hồ sơ khi nào đủ căn cứ sẽ xử lý sau. Quá trình xét xử vụ án này, HĐXX đã tuyên phạt Ngọc và Hiếu, mỗi bị cáo 7 năm tù giam theo đúng tội danh đã truy tố.

Nguyễn Hưng