Thông tư này quy định chi tiết về thẩm quyền xử phạt của Trưởng phòng nghiệp vụ thuộc Cục CSGT đường bộ - đường sắt; tước quyền sử dụng giấy phép lái xe, chứng chỉ bồi dưỡng kiến thức pháp luật về giao thông đường bộ, giấy phép lái tàu; thời hạn ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính; xử phạt hành vi người điều khiển xe ôtô chở hành khách, ôtô chở người vượt quá quy định được phép chở của phương tiện.

Về  thời hạn ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính, Thông tư quy định thời hạn chung đối với tất cả các trường hợp ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính là 7 ngày, kể từ ngày lập biên bản vi phạm hành chính, trừ những trường hợp kéo dài hoặc gia hạn thời gian ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính theo quy định tại Khoản 1, Điều 66 Luật Xử lý vi phạm hành chính. Trường hợp chưa đến ngày hẹn để giải quyết, nếu người vi phạm đến trụ sở của người có thẩm quyền xử phạt và đề nghị được thi hành quyết định xử phạt, thì người có thẩm quyền xử phạt có trách nhiệm xem xét hồ sơ vụ vi phạm, nếu đã rõ ràng, không cần xác minh thêm, thì tiến hành ra quyết định xử phạt.

Về xử phạt hành vi người điều khiển xe ôtô chở hành khách, ôtô chở người (trừ xe buýt) vượt quá quy định được phép chở của phương tiện (Khoản 2, Khoản 4, Điều 23, Nghị định số 171/2013/NĐ-CP) Thông tư quy định số người quy định được phép chở của phương tiện được hiểu là số chỗ ngồi ghi trong giấy đăng ký xe, giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường.

Cụ thể số người chở vượt quá quy định được phép chở đối với từng loại xe nhưng không bị xử phạt như sau: xe đến 9 chỗ ngồi: chở quá 1 người; xe từ 10 - 15 chỗ ngồi: chở quá 2 người; xe từ 16 - 30 chỗ ngồi: chở quá 3 người; xe trên 30 chỗ ngồi: chở quá 4 người

PV